Cây mã đề tác dụng chữa bệnh gì?

Cây mã đề là loại cây thân cỏ dễ trồng được người dân hái nấu canh hoặc nấu nước uống nhưng tác dụng chữa bệnh của cây mã đề có lẽ một số người vẫn chưa rõ.

Cây mã đề

Một số thông tin về cây Mã Đề:

Tên khác: Xa tiền, Bông mã đề, Suma (Tày), Nhả én dứt (Thái).

Tên khoa học: Plantago major L., họ Mã đề (Plantaginaceae).

Mô tả: Cây thuộc thảo, sống dai, thân rất ngắn. Lá mọc ở gốc thành hoa thị, có cuống dài và rộng. phiến lá nguyên hình trứng dài 12 cm rộng 8cm, có 5-7 gân chính hình cung chạy dọc theo phiến rồi đồng quy ở gốc và ngọn phiến lá. Hoa mọc thành bông có cán dài, hướng thẳng đứng. Hoa đều luỡng tính, 4 lá đài xếp chéo hơi dính nhau ở gốc. Tràng màu nâu, khô xác, tồn tại, 4 thùy xen kẽ với các lá đài. Bốn nhị thò ra ngoài, chỉ nhị mảnh dài gấp tràng 2 lần. Bầu trên, 2 ô. Quả hộp, có 8-13 hạt.

Bộ phận dùng: – Toàn cây (Xa tiền thảo); Lá (Xa tiền – Folium Plantaginis); Hạt (Xa tiền tử – Semen Plantaginis).

Phân bố: Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta và nhiều nước khác.

Thu hái: Nếu lấy lá thì thu hoạch từ tháng 5-7, nếu lấy hạt thì từ tháng 6-8, cắt những bông thật già phơi khô, vò sát trên sàng rồi sẩy sạch, sau đó tiếp tục phơi khô cho đến khi độ ẩm còn 10%.

Tác dụng chữa bệnh của cây mã đề:

– Về phần lá:

Phế nhiệt, đàm nhiệt, ho lâu ngày, viêm khí quản, viêm thận và bàng quang, bí tiểu tiện, tiểu tiện đau rít ra máu hoặc ra sỏi, phù thũng, mắt đau nhặm sưng đỏ (sung huyết), thử thấp ỉa chảy, nôn ra máu, chảy máu cam, sang độc, có thể dùng nó để hỗ trợ điều trị chứng tăng huyết áp bên cạnh các thuốc đặc hiệu

– Hạt: Tiểu tiện bế tắc, ỉa chảy, kiết lỵ do thử thấp, đau mắt đỏ có màng sưng.

– Mã đề cũng có tác dụng long đờm và trị ho.

Thuốc viên bào chế từ cao mã đề và terpin đã được áp dụng trên lâm sàng, điều trị hiệu quả các bệnh viêm cấp tính đường hô hấp trên, làm nhẹ quá trình cương tụ niêm mạc hô hấp, chữa ho và phục hồi tiếng nói ở bệnh nhân viêm thanh quản cấp. Cao nước mã đề đã được áp dụng cho hơn 200 bệnh nhân viêm amiđan cấp, kết quả 92% khỏi bệnh, 8% đỡ. Tác dụng hạ sốt, phục hồi số lượng bạch cầu và làm hết các triệu chứng tại chỗ của mã đề được đánh giá là tương đương các thuốc kháng khuẩn thường dùng.

– Mã đề cũng được sử dụng trong các dược phẩm trị mụn nhọt và bỏng.

Thuốc dạng dầu chế từ bột mã đề khi đắp lên mụn nhọt có thể làm mụn đỡ nung mủ và viêm tấy. Còn thuốc mỡ bào chế từ cao đặc mã đề đã được sử dụng để điều trị các ca bỏng 2-45% diện tích da, đạt kết quả tốt. Bệnh nhân cảm thấy mát, dễ chịu, không xót, không nhức buốt, dễ thay bông và bóc gạc. Vết bỏng đỡ nhiễm trùng, ít mủ, giảm mùi hôi thối, lên da non tốt, thịt phát triển đều, không sần sùi. Bệnh nhân giảm được lượng thuốc kháng sinh dùng toàn thân.

Các nghiên cứu cũng cho thấy, chất polysacharid trong hạt mã đề có tác dụng nhuận tràng, trị táo bón mạn tính.

Một số bài thuốc để chữa bệnh của cây mã đề

Trong y học cổ truyền, mã đề được dùng làm thuốc lợi tiểu, chữa một số bệnh về tiết niệu, cầm máu, phù thũng, ho lâu ngày, tiêu chảy, chảy máu cam… Liều dùng mỗi ngày là 10-20 g toàn cây hoặc 6-12 g hạt, sắc nước uống. 

–  Lá tươi giã nhỏ đắp lên mụn nhọt, toàn cây nấu thành cao đặc chữa bỏng.

Lợi tiểu : Hạt mã đề 10 g, cam thảo 2 g, sắc lấy nước, chia 3 lần uống trong ngày.

–  Chữa tiểu ra máu : Lá mã đề, ích mẫu, mỗi vị 12 g; giã nát, vắt lấy nước cốt uống.

–  Chữa viêm cầu thận cấp tính : Mã đề 16 g, thạch cao 20 g, ma hoàng, bạch truật, đại táo, mỗi vị 12 g; mộc thông 8 g, gừng, cam thảo, quế chi, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.

–  Chữa viêm cầu thận mạn tính : Mã đề 20 g, ý dĩ 16 g, thương truật, phục linh, trạch tả, mỗi vị 12 g; quế chi, hậu phác, mỗi vị 6 g; xuyên tiêu 4 g. Sắc uống ngày một thang.

–  Chữa sỏi niệu : Hạt mã đề 12-40 g, kim tiền thảo 40 g, thạch vĩ 20-40 g, hoạt thạch 20-40 g, tam lăng, ý dĩ, ngưu tất, nga truật, mỗi vị 20 g; chỉ xác, hậu phác, gai bồ kết, hạ khô thảo, bạch chỉ, mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.

–  Chữa viêm bàng quang cấp tính : Mã đề 16 g, hoàng bá, hoàng liên, phục linh, rễ cỏ tranh, mỗi vị 12 g; trư linh, mộc thông, hoạt thạch, bán hạ chế, mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa ho, tiêu đờm : Mã đề 10 g, cát cánh, cam thảo mỗi vị 2 g. Sắc uống ngày một thang.

–  Chữa lỵ : Mã đề, dây mơ lông, cỏ seo gà mỗi vị 20 g. Sắc uống ngày một thang.

–  Chữa tiêu chảy : Mã đề tươi 1-2 nắm, rau má tươi 1 nắm, cỏ nhọ nồi tươi 1 nắm. Sắc đặc, uống ngày một thang.

Chữa tiêu chảy mạn tính : Hạt mã đề 8 g, cát căn, rau má, đẳng sâm, cam thảo dây mỗi vị 12 g, cúc hoa 8 g. Sắc uống ngày một thang.

Một số thực đơn chữa bệnh có mã đề

Nước ép mã đề: mã đề thảo tươi một nắm, rửa sạch xay ép lấy nước (khoảng nửa cốc) thêm chút đường trắng khuấy đều, uống. Dùng cho các trường hợp tiểu dắt, buốt, khó tiểu ( viêm đường tiết niệu…).
Cháo mã đề: mã đề thảo tươi 30 – 60g, gạo tẻ 100g nấu chung thành cháo, cháo chín vớt bỏ bã, thêm hành tươi, gia vị vừa ăn. Dùng cho các trường hợp phù nề, tiêu chảy, viêm đường tiết niệu…
Nước hãm xa tiền tử: xa tiền tử 9g, pha hãm uống thay chè. Dùng cho bệnh nhân tăng huyết áp.
Cháo phục linh xa tiền: xa tiền tử 30g, phục linh 30g, gạo 60g. Xa tiền tử gói trong vải màn nấu với gạo tẻ thành cháo, khi cháo được vớt bỏ bã xa tiền, thêm bột phục linh, ít đường, khuấy cho tan và sôi đều. Ăn ngày 2 lần, dùng cho các trường hợp viêm tử cung, huyết trắng.
Cháo xa tiền tử: xa tiền tử 15 – 30g, gạo tẻ 100g. Xa tiền tử gói trong vải màn sắc lấy nước. Đem nước sắc nấu với gạo thành cháo, thêm chút muối gia vị, cho ăn nóng ngày 2 lần (sáng, chiều). Dùng cho người cao tuổi viêm khí phế quản mạn tính, tăng huyết áp, viêm đường tiết niệu…
Lá xa tiền tươi 30 – 60g, gạo tẻ 100g, hành tươi 1 củ. Lá mã đề sắc lấy nước bỏ bã, nấu với gạo thành cháo, cho hành vào. Tác dụng: trừ đờm, chống viêm, lợi niệu, giảm cholesterol máu.

Chú ý:

Không dùng cho các trường hợp tỳ vị hư hàn, di hoạt tinh hoặc tỳ hư hạ hãm

Phụ nữ có thai cần thận trọng khi sử dụng loại thuốc này. Đối với người cao tuổi hay đi tiểu đêm, tránh dùng mã đề vào buổi chiều tối.

Blogsudo

Đăng bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *